Non nước Tràng An. Ảnh: Ninh Mạnh Thắng

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu về các giá trị cảnh quan, địa chất và địa mạo (tiêu chí 7 và 8), Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản đã có một số đánh giá và kết luận bước đầu về giá trị nổi bật toàn cầu cảnh quan – địa mạo karst ở khu vực Tràng An. Đây cũng được xem là cơ sở để phân định vùng lõi, vùng đệm của khu vực Quần thể danh thắng Tràng An.

Non nước Tràng An. Ảnh: Ninh Mạnh Thắng

Non nước Tràng An. Ảnh: Ninh Mạnh Thắng

Cảnh quan karst khu vực Quần thể danh thắng Tràng An đã hình thành
từ Miocene (khoảng 23 triệu năm trở lại đây) với bề mặt san bằng cổ cao 150-250m cùng các chóp di
lưu, đặc biệt là trong Đệ Tứ với các kiểu cảnh quan karst “peak-cluster depression”, “peak- cluster
vally”, “peak- forest plain”, cánh đồng karst cùng nhiều tầng hang động, thềm biển, ngấn sóng vỗ
khắc lõm vào vách đá vôi với các lớp hầu hà sống bám… Tất cả cùng với các giá trị về khảo cổ, lịch
sử, văn hoá, xã hội khác đã làm nên giá trị toàn cầu về cảnh quan karst nhiệt đới với các dấu ấn
tác đồng của biển xưa nay đã trở thành “hoá thạch”.

 

Vùng karst Tràng An là phần tận cùng về phía Đông Nam của các dải
đá vôi thuộc nhánh đại dương Tethys cổ từ Trung Quốc kéo vào Việt Nam. Các dải đá vôi này đã làm
thành loạt cao nguyên đá vôi Tây Bắc Việt Nam độc đáo, sau khi qua Cúc Phương về tới Tràng An thì
chuyển thành các khối núi, dãy núi hẹp xen các thung lũng ngày càng mở rộng về phía Đông Nam, cùng
một số đồi karst sót rải rác trên đồng bằng trước khi chìm hẳn xuống biển. Với đặc điểm cấu trúc
sơn văn như vậy, vùng đá vôi Tràng An xứng đáng được coi là đại diện tiêu biểu, nhưng cũng rất khác
biệt của dải đá vôi Tây Bắc Việt Nam.

 

Khu vực nghiên cứu được chia làm 2 phần Đông Bắc và Tây Nam thông
qua đứt gãy Ninh Bình phương Tây Bắc – Đông Nam. Kết quả nghiên cứu chuyển động tân kiến tạo khu
vực đã xác nhận từ Pleistocene (khoảng 2,588 triệu năm trở lại đây) do hoạt động sụt lún mở rộng
của đồng bằng châu thổ sông Hồng cũng như Vịnh Bắc bộ mà bộ phận Đông Bắc và Đông Nam khu vực Tràng
An cũng bị sụt lún kéo theo, với bằng chứng là các trầm tích trẻ tăng dần chiều dày về phía Đông
Nam.

 

Khu vực nghiên cứu chịu tác động rất rõ rệt của hệ thống đứt gãy
phương Tây Bắc- Đông Nam; Đông Bắc- Tây á kinh tuyến và vĩ tuyến. Cũng vì thế mà các thung lũng dài
và rộng liên thông với đồng bằng già nua ở phần Đông Nam khối đá vôi Tràng An có đặc điểm rất điển
hình khép hẹp đầu ở Tây Bắc và mở rộng dần về phía Đông Nam. Đặc điểm đó phản ánh rất rõ cơ chế
hoạt động của hệ thống đứt gãy Tây Bắc – Đông Nam là trượt bằng – thuận trong giai đoạn tân kiến
tạo.

 

Cũng do hoạt động mạnh trong giai đoạn tân kiến tạo của mạng lưới
các hệ thống đứt gãy, kết hợp với các dụng cụ hoà tan, rửa lũa, gặm mòn mạnh của nước trong điều
kiện khí hậu nhiệt đới và càng mạnh hơn bởi sự xâm lấn nhiều lần của biển nên địa hình karst được
thể hiện một cách rất sắc nét dưới dạng thành luỹ hẹp, vách dốc dạng khung xương, kéo dài dạng cánh
cung, dạng lưỡi kiếm, dạng vô lăng (do sự phối hợp giữa dạng cung và dạng lưỡi kiếm) bao lấy một
không gian rỗng, rộng lớn bên trong như ở vùng Tràng An. Đó cũng có thể là lý do để kinh đô đầu
tiên của Nhà nước Việt Nam phong kiến độc lập- Kinh đô Hoa Lư- với các di tích của triều đại Đinh-
Lê- Lý đã được xây dựng ở đây dự trên chính sự hiểm trở của các “thành luỹ”, “cung”, “kiếm”… độc
đáo khu vực này.

 

Đặc biệt, không nơi nào trên thế giới có được cảnh quan của một
Vịnh Hạ Long thực thụ nhưng đã trở thành “hóa thạch, nổi lên trên cạn” như ở đây. Nguyên nhân làm
cho “Vịnh biển cổ Hoa Lư” của Ninh Bình trở thành một “Vịnh Hạ Long trên cạn” nằm ở đặc thù của quá
trình phát triển đồng bằng châu thổ Sông Hồng và tiếp đó là do hoạt động nhân sinh đắp đê ngăn lũ
và quai đê lấn biển của người Việt từ thế kỷ IX, X đến nay. Mặc dù biển đã trở nên “xa” Tràng An từ
nghìn năm nay song cảnh quan “Karst nhiệt đới bị biển xâm lấn và biến cải” vẫn được giữ nguyên và
trở thành niềm tự hào riêng có của Ninh Bình, với các núi, đảo karst mang trên mình nhiều dấu ấn
của biển như các clif, các ngấn sóng vỗ có hàu hà bám, các thềm mài mòn, các hang luồn…, những danh
thắng có giá trị không thua kém các danh thắng của Vịnh Hạ Long.

 

Một mức ngấn biển thứ hai- trẻ hơn, ở độ cao khoảng 1,5-2,5 m so
với mực nước hiện đại cũng được quan sát thấy ở nhiều nơi, trong đó có cả các địa danh nêu trên,
đóng vai trò biến cải và xoá nhoà các ngấn biển cổ hơn, thí dụ ở bờ sông Tam Cốc – Bích Động, gần
đền Thái Vi, ở chân núi Non Nước…

 

Mức ngấn biển thứ ba, cổ hơn cả, quan sát thấy rất mờ nhạt ở độ
cao khoảng 25-30m, tương đương với một mức hang. Một thí dụ điển hình còn được bảo tồn khá tốt quan
sát được ở khu vực Hang Hai- Hang Ba, tức là đã vào sâu trong khối karst sót Tràng An. Lý giải cho
hiện tượng này có thể là vị trí như vậy sau này bị khuất, không bị các tác động phá huỷ của dòng
chảy, sóng và gió… nên vẫn còn sót lại cho đến ngày nay. Mức ngấn biển này được cho là hình thành
trong đợt biển tiến cuối Pleistocen giữa- muộn (gian băng Riss-Wurn, 40.000-20.000 năm trước) tức
là ngay sát trước kỷ băng hà Wurn cuối cùng (18.000-7.000 năm trước). Đặc biệt ở rất nhiều nơi trên
các ngấn biển cổ 4-7m vẫn còn dính bám dấu tích của hàu, hà. Hơn 20 mẫu đã được thu thập để phân
tích tuổi tuyệt đối bằng phương pháp C14.

 

Mặc dù quy mô không lớn, khối đá vôi Tràng An vẫn phản ánh rất rõ
quy luật phát triển có tính giai đoạn của quá trình karst hoá từ ngoài rìa vào trung tâm khối, thể
hiện qua sự phân bố các kiểu cảnh quan karst: “Đồi karst sót tách biển đồng bằng”, “đỉnh liên kết
thung lũng”, “đỉnh liên kết trũng sụt kín”… Về địa mạo có thể coi phạm vi có phân bố các kiểu cảnh
quan karst như trên là cơ sở tự nhiên để phân định vùng lõi, vùng đệm của khu vực di sản.

 

Nguyễn Thơm