Du khách về thăm Tràng An. Ảnh: Thế Minh

Bước đầu, các nhà địa chất đã phát hiện được 64 hang và mái đá trong vùng lõi của Quần thể danh thắng Tràng An. Qua điều tra, thám sát cho thấy, các di tích khảo cổ hang động tiền sử là nét nổi bật nhất trong vùng lõi của Quần thể danh thắng Tràng An.

Du khách về thăm Tràng An. Ảnh: Thế Minh

Du khách về thăm Tràng An. Ảnh: Thế Minh

Cho đến nay, Viện Khảo cổ học đã thám sát, khai quật và xác định
được 10 di tích văn hoá tiền sử có giá trị đặc biệt quan trọng đối với việc xây dựng Hồ sơ di sản
thế giới. Đó là hang Bói, hang Trống, hang Mòi, hang Núi tướng, hang ốc, Mái đá ông Hay, Mái đá
Chợ, Mái đá Vàng, Thung Bình 1 và Thung Bình 2. Bước đầu các nhà khảo cổ học đã có những kết luận
quan trọng về giá trị văn hoá khảo cổ của những hang động trên. Cụ thể, địa tầng của các di tích
hang này còn bảo lưu vết tích văn hoá nguyên vẹn, dày từ 1,0m đến 2,0m, ken dày đặc vỏ nhuyễn thể
nước ngọt hoặc biển, cùng di cốt động vật, dấu tích bếp, mộ táng và di cốt người, đặc biệt là công
cụ lao động bằng đá, bằng xương và đồ gốm có sự diễn biến từ sớm đến muộn. Kết quả từ tài liệu thám
sát các di tích này đã góp phần xác định đặc trưng, tính chất, niên đại các giai đoạn phát triển và
giá trị nổi bật toàn cầu của hệ thống văn hoá hang động thời tiền sử ở Tràng An.

 

Cộng đồng dân cư tiền sử Tràng An định cư trong các hang động hoặc
mái đá, phân bố tập trung trong thung lũng đầm lầy Kerst, chịu sự tác động to lớn của biến đổi cảnh
quan môi trường do các đợt biển tiến, biển thoái. Cư dân tiền sử nơi đây là những người tiếp cận và
khai thác biển đầu tiên ở Việt Nam, sáng tạo ra tổ hợp công cụ lao động bằng đá vôi, duy trì lâu
dài kỹ nghệ ghè đẽo, sớm nảy sinh kỹ thuật cưa, mài; chế tạo và sử dụng phổ biến đồ gốm. Sống định
cư lâu dài trong các hang động đá vôi, cư dân tiền sử nơi đây đã khai thác các nguồn lợi rừng, biển
hoặc đầm lầy xung quanh, thay đổi về kỹ thuật chế tác công cụ, làm gốm…

 

Vết tích văn hoá còn lại cho thấy, các di tích tiền sử Tràng An
phát triển qua 3 giai đoạn: Trước biển tiến Holocene trung (trước 6.000 năm BP) có các di tích
(hang Bói, hang Trống, Mái đá ông Hay, lớp dưới Mái đá Chợ và lớp sớm nhất hang Mòi). Giai đoạn
biển tiến (6.000-4.000 năm BP) có các di tích:Mái đá Vàng, Hang ốc và lớp trên Hang Mòi. Giai đoạn
sau biển tiến (4.000-2.000 năm BP) có các di tích: Hang núi Tướng 1, núi Tướng 2, lớp trên mái đá
Chợ, Thung Bình 1, Thung Bình 2. Những tư liệu trên cho phép chúng ta xác lập sự hiện diện của một
văn hoá khảo cổ-văn hoá Tràng An có đặc trưng khác với các văn hoá khảo cổ đã biết ở Việt Nam như:
Văn hoá Hoà Bình, văn hoá Đa Bút, văn hoá Quỳnh Văn, văn hoá Hạ Long, văn hoá Hoa Lộc.

 

Với tư liệu khảo cổ học hiện biết, có thể tiêu chí 5 được xem là
thích hợp cho việc đề cử di sản thế giới đối với Quần thể danh thắng Tràng An. Đó là: Hệ thống các
di tích khảo cổ hang động trong Quần thể danh thắng Tràng An “Là một thí dụ nổi bật về một sự định
cư truyền thống của loài người, việc sử dụng đất hoặc biển, mà đại diện cho một nền văn hoá (hoặc
nhiều nền văn hoá) hoặc sự tác động của con người đến thiên nhiên, đặc biệt khi nó trở nên bị nguy
hại dưới tác động của sự thay đổi không thể thay đổi được”. Điều này được minh chứng qua các dẫn
liệu khảo cổ học như sau:

Truyền thống định cư hang động lâu dài từ thời tiền sử, cách đây
25.000 năm đến các chùa hang mà người Việt đang sử dụng cho thấy tại đây con người sống, khai thác
nguồn lợi tự nhiên trong vùng karst nhiệt đới, gắn liền với những biến đổi địa chất mang tính toàn
cầu (biển tiến, biển thoái), gắn liền với những phát minh vĩ đại của nhân loại (kỹ thuật mài trong
chế tác công cụ, kỹ thuật làm đồ gốm, kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi). Đây là một thí dụ điển hình
về bước tiến của văn hoá nhân loại ở vùng biển cổ Ninh Bình.

 

Địa tầng các di tích tiền sử Tràng An cho biết các giá trị văn hoá
tiền sử ở đây phát triển bền vững, được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác và trở thành
truyền thống. Theo thời gian, truyền thống ở đây lại không lập lại nguyên gốc mà do áp dụng kỹ
thuật mới hoặc các dạng thức hoạt động mới đã nảy sinh cái mới, cái mới lại được cách tân và gia
nhập vào truyền thống. Cứ như vậy, truyền thống và cách tân là 2 chiều ngang và dọc, dệt nên bức
tranh văn hoá tiền sử, làm nên giá trị truyền thống, tinh hoa của các cộng đồng tộc người ở vùng
Tràng An, Ninh Bình.

 

Các chứng tích văn hoá khảo cổ tiền sử ở Tràng An phong phú và đa
dạng, là nguồn sử liệu vật thật minh chứng cho sự biến đổi đặc biệt về kinh tế, văn hoá, xã hội của
cộng đồng dân cư nơi đây dưới sự tác động thay đổi môi trường karst, biến động của cổ khí hậu, của
mực nước biển vùng nhiệt đới gió mùa. Đây là các chứng tích điển hình nhất cho cho loại hình cư trú
liên tục trong hang động trước, trong và sau biển tiến. Đặc trưng của người Việt cổ ở Tràng An là
truyền thống khai thác và sử dụng nhuyễn thể biển và trên cạn, truyền thống săn bắt đa tạp, theo
phổ rộng, săn bắt nhiều loài, mỗi loài vật một ít và không dẫn đến huỷ diệt bày đàn động vật đó.
Truyền thống chế tác và sử dụng công cụ đá vôi, sự nảy sinh kỹ thuật mài, cưa và kỹ thuật làm đồ
gốm và trồng trọt trong thung lũng đầy lầy là nét riêng độc đáo, làm nên giá trị nổi bật toàn cầu
của quần thể các di tích khảo cổ ở nơi đây. Có thể nghĩ rằng, hệ thống các di tích khảo cổ tiền sử
Tràng An còn chứa đựng sự độc bản hoặc chí ít là chứng cứ đặc biệt về truyền thống văn hoá hoặc nền
văn minh hiện còn tồn tại hoặc đã mất của nhân loại.

 

Cùng với những luận cứ trong vùng lõi của di sản, các nhà khảo cổ
học cũng đang tiếp tục tiến hành điều tra, khảo sát các di tích khảo cổ hang động ở vùng đệm và
vùng ngoài khu di sản, hợp tác chặt chẽ với các nhà địa chất kỷ Đệ tứ trong việc nghiên cứu cổ môi
trường khu vực Tràng An để phân tích và xét nhiệm các di cốt động vật, các loài nhuyễn thể, di cốt
người, xác định niên đại tuyệt đối, bào tử phấn hoa, thành phần thạch học công cụ và đồ gốm. Nghiên
cứu chuyên sâu, phân tích so sánh cụ thể cặn kẽ tư liệu giữa các di tích với nhau và giữa chúng với
các di tích và di vật tiêu biểu ở Việt Nam và thế giới. Điều này sẽ giúp cho tỉnh có đủ luận chứng
xác định và chứng minh cho những giá trị nổi bật toàn cầu của di sản Tràng An, làm cơ sở cho việc
xây dựng hồ sơ di sản thế giới.

 

Nguyễn Thơm